Nền Khoa Học của CUBA có bị cô lập không?

Nhân sự vụ Việt Nam nhập vaccine Abdala của Cuba, mấy luận điệu tuyên truyền kiểu "cải lương hóa, bi kịch hóa" lệnh cấm vận Hoa Kỳ áp đặt lên Cuba lại có cơ hội lan truyền. Mình chỉ thấy là tại sao bao nhiêu năm "nhồi sọ," những luận điệu này vẫn được "ăn rồi lấy ra xài lại" từ năm này qua tháng nọ.

Một myth mà nhiều người hay nghĩ, đó là: Phương Tây giới hạn hợp tác khoa học với Cuba. Thực tế, điều này hoàn toàn sai. Nền khoa học của Cuba không hề bị cô lập. Thậm chí, mối quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học (NCKH) Hoa Kỳ - Cuba sâu sắc hơn những gì chúng ta thường nghĩ.

Myth này có thể bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử: Cuba chủ yếu hợp tác NCKH với khối XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trước khi khối này sụp đổ.

Tuy nhiên, cách nghĩ này đã lỗi thời và không phản ánh nhiều sự thật.

1/ HỢP TÁC NCKH CUBA - HOA KỲ KHÔNG BỊ PHÁ VỠ BỞI YẾU TỐ CHÍNH TRỊ

Hợp tác NCKH Hoa Kỳ - Cuba đã có lịch sử lâu đời, bắt đầu từ thế kỷ 19 (Deweerdt, 2001). Cho đến nay, bất chấp lệnh cấm vận, quan hệ NCKH Cuba - Hoa Kỳ vẫn duy trì ở nhiều lĩnh vực, điển hình: khí tượng thủy văn, bệnh nhiệt đới, nông lâm nghiệp, khoa học môi trường, hải dương học, và thậm chí là công nghệ sinh học. 

  • BioCubaFarma, tập đoàn quốc doanh về công nghệ sinh học, có 10% các nghiên cứu khoa học hợp tác với các học viện, viện nghiên cứu tại Mỹ. Bởi vì BioCubaFarma chiếm tới 50% hoạt động NCKH về y dược, công nghệ sinh học ở Cuba; do đó con số 10% hợp tác với Mỹ tưởng là nhỏ nhưng không hề nhỏ (Guzmán-Sánchez et al., 2018). 

  • Một ví dụ khác là hợp tác giữa Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) với chính phủ Cuba về các bệnh nhiệt đới (NIH, 2015).

Các lệnh cấm vận Hoa Kỳ áp đặt lên Cuba từ 1960 tạo ra nhiều trở ngại khi hợp tác nghiên cứu, chẳng hạn thủ tục hành chính, research funding, đi lại trao đổi, nghiên cứu thực địa sẽ khó khăn hơn do vướng mắc nhiều quy định. Tuy nhiên, về bản chất, các lệnh cấm vận miễn trừ hoạt động nghiên cứu khoa học (Deweerdt, 2001).

  • Bên cạnh miễn trừ cho hoạt động NCKH, luật Hoa Kỳ thậm chí còn cho phép thành lập cơ sở giáo dục, nghiên cứu của Mỹ tại Cuba trong một số trường hợp nhất định. Luật cũng không cấm cản cấp tài trợ nghiên cứu, hoặc học bổng cho người dân Cuba. Sản phẩm y dược của Cuba được cho phép nhập khẩu, tiếp thị, và phân phối tại Mỹ, miễn là đáp ứng đầy đủ quy định của Hoa Kỳ (United States Department of the Treasury, 2021).

Kể từ thời Bill Clinton, và đặc biệt là dưới chính quyền Obama, chính sách hợp tác NCKH Hoa Kỳ - Cuba biến đổi tích cực. Đến 2020, số lượng các quốc gia tham gia vào mạng lưới hợp tác NCKH Cuba - Hoa Kỳ tăng từ 15 nước (1980) lên 155 nước (dưới chính quyền Obama) (minh họa Hình 1) (Ronda-Pupo, 2021)

2/ ĐỒNG MINH MỸ NHƯ ANH, PHÁP, NHẬT, CANADA, ĐỨC VẪN TỒN TẠI QUAN HỆ HỢP TÁC NCKH VỚI CUBA

Phân tích mạng lưới hợp tác NCKH của Cuba trong giai đoạn 1996-2005 cho thấy Cuba có tồn tại quan hệ hợp tác ở mức cao với các nước trên thế giới. Tây Ban Nha, Mexico, Brazil, Hoa Kỳ, Italy, và Đức là những nước có mức độ hợp tác cao với Cuba (Ronda-Pupo & Sylvan Katz, 2016). (Minh họa Hình 2)

Trong đại dịch Covid-19, EU đã viện trợ 1.5 triệu EUR để nâng cao năng lực phòng chống bệnh tật ở Cuba (WHO/PAHO, 2020). Thụy Điển cũng đầu tư vào công nghệ chẩn đoán - xét nghiệm cho Cuba (WHO/PAHO, 2020a).

Minh chứng rõ nhất là vaccine phòng ngừa bệnh viêm màng não do mô cầu Meningococcal nhóm huyết thanh B và C (VA-MENGOC-BC) được phát triển bởi Finlay Institute của Cuba , và được GlaxoSmithKline thử nghiệm, sản xuất và phân phối cho thị trường châu Âu.

3/ LỆNH CẤM VẬN KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ HÓA NCKH CỦA CUBA

Từ sau 1991, cùng với việc trở thành thành viên của WTO vào năm 1995, Cuba đã tận dụng cơ hội toàn cầu hóa để quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu.

Giai đoạn 1975-2005 chứng kiến xu hướng tăng trưởng về số bài báo hợp tác nghiên cứu của Cuba, đặc biệt trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên (Minh họa Hình 3) (Ronda-Pupo & Sylvan Katz, 2016).

Ngoài Anh ngữ, số bài báo khoa học còn lại của Cuba được xuất bản trong tiếng Tây Ban Nha. Do đó, nếu chỉ nhìn vào thống kê NCKH bằng tiếng Anh thì sẽ không thấy hết quy mô hợp tác của Cuba.

Việc hợp tác nghiên cứu chặt chẽ với các nước trong khối các nước nói tiếng TBN (như Tây Ban Nha, Brazil và Mexico) cho phép Cuba vượt qua rào cản về huy động vốn cho hoạt động nghiên cứu và tiếp cận công nghệ mới.

4/ VỊ TRÍ VỀ NCKH CỦA CUBA SO VỚI THẾ GIỚI

Thử lấy sản lượng xuất bản bài báo khoa học (peer-reviewed) trong năm 2018 làm ví dụ minh họa. Ở đây chỉ tính các tạp chí khoa học - kỹ thuật được phân loại bởi Science Citation Index (SCI) và Social Sciences Citation Index (SSCI) (World Bank, 2021). (Minh họa Hình 4)

Năm 2018, Cuba có khoảng 969 bài báo khoa học được công bố, xếp thứ 78/197 quốc gia. Con số này tất nhiên không thể sánh bằng các cường quốc khoa học, nhưng vẫn cao gần gấp 3 lần so với mức trung vị của thế giới (khoảng 357 bài). Con số của Cuba cũng cao hơn các nước giàu hơn như Luxembourg, Uruguay, Venezuela.

Cùng kỳ, Việt Nam có khoảng 4,286 bài được công bố. Tính theo bình quân đầu người là 45 bài / 1 triệu dân. Trong khi đó, con số này ở Cuba là 85 bài / 1 triệu dân, cao gần gấp đôi Việt Nam. Ngoài ra, tỷ lệ này ở Cuba cũng cao hơn ở Pakistan, Philippines, Bangladesh.

Sản lượng bài báo khoa học của Việt Nam và Philippines chỉ vượt Cuba kể từ năm 2012 (đối với Việt Nam), và 2015 ( đối với Philippines)

Chính sách của chính quyền Trump có ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng xuất bản bài báo khoa học của Cuba (Torrens, 2021). Tuy nhiên, xu hướng giảm số bài báo khoa học thường niên ở Cuba đã bắt đầu từ giai đoạn 2013-2014.

5/ TRỞ NGẠI CỦA LỆNH CẤM VẬN KHÔNG NGĂN CẢN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ HỢP TÁC KHOA HỌC HOA KÌ - CUBA

Hình 5 liệt kê các lĩnh vực hợp tác khoa học giữa Mỹ và Cuba trong giai đoạn 1980-2020 (Ronda-Pupo, 2021). Để ý 3 lĩnh vực chiếm tỷ trọng nhiều nhất:

- Vật lí, thiên văn

- Y học lâm sàng

- Sinh học, và nghiên cứu y sinh

Đây là các ngành khoa học đòi hỏi mức độ đầu tư cao về vốn trong NCKH. Hơn nữa, cũng đòi quy mô về lực lượng đội ngũ nghiên cứu và độ phức tạp cao. Do đó, bất chấp lệnh cấm vận, hợp tác NCKH Hoa Kỳ - Cuba thực chất rất sâu sắc và chặt chẽ ở cả ba mức độ:

- Tích lũy về vốn cơ sở hạ tầng cho NCKH

- Tích lũy vốn quan hệ (relationship capital)

- Tích lũy vốn nhân lực (human capital) thông qua dòng chảy hợp tác và nhập cư của nhà khoa học từ Cuba đến Mỹ và châu Âu.

KẾT

Tôi không phủ định lệnh cấm vận của Hoa Kỳ đối với Cuba là lỗi thời, cần được xóa bỏ. 

Tuy nhiên, trái với những gì mà số đông người Việt được "tuyên truyền" về lệnh cấm vận của Hoa Kỳ đối với Cuba bằng những luận điệu "cải lương, bi đát." Một nửa sự thật thì không phải là sự thật. 

Mối quan hệ hợp tác NCKH Hoa Kỳ - Cuba ở mức độ sâu sắc hơn những gì chúng ta thường nghĩ. Ngoài ra, Cuba cũng không hề bị cô lập, tách biệt khỏi cộng đồng khoa học thế giới.

Bản chất mối quan hệ hợp tác NCKH Hoa Kỳ - Cuba còn chứng minh một sự thật: Bất chấp sự khác biệt về ý thức hệ, khoa học là không mang màu sắc chính trị. Chỉ có mưu đồ chính trị mới cố tình che mờ những sự thật khoa học.

References

Deweerdt, S. (2001). Embargoing Science: US Policy toward Cuba and Scientific Collaboration. BioScience, 51(8), 612. https://doi.org/10.1641/0006-3568(2001)051[0612:esuptc]2.0.co;2

Guzmán-Sánchez, M. V., Piñón-Lora, M., Villaseñor-García, E. A., Jiménez-Andrade, J. L., & Carrillo-Calvet, H. (2018). Characterization of the Cuban biopharmaceutical industry from collaborative networks. Scientometrics, 115(3), 1533–1548. https://doi.org/10.1007/s11192-018-2719-5

NIH. (2015, December). US scientists explore research partnerships with Cuba - Fogarty International Center @ NIH. Fogarty International Center. https://www.fic.nih.gov/News/GlobalHealthMatters/november-december-2015/Pages/us-cuba-joint-scientific-priorities.aspx

Ronda-Pupo, G. A. (2021). Cuba—U.S. scientific collaboration: Beyond the embargo. PLOS ONE, 16(7), e0255106. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0255106

Ronda-Pupo, G. A., & Sylvan Katz, J. (2016). The scaling relationship between citation-based performance and international collaboration of Cuban articles in natural sciences. Scientometrics, 107(3), 1423–1434. https://doi.org/10.1007/s11192-016-1939-9

Torrens, C. (2021, April 29). Cuba/US scientific cooperation declines under Trump. AP NEWS. https://apnews.com/article/donald-trump-latin-america-science-ap-top-news-travel-e37b89dcd275482eb75e658a29611622

United States Department of the Treasury. (2021, September 27). Cuban Sanctions. U.S. Department of the Treasury. https://home.treasury.gov/policy-issues/financial-sanctions/faqs/topic/1541

WHO/PAHO. (2020a, October 12). En tiempos de pandemia, la Embajada de Suecia en Cuba coopera con OPS/OMS y el Centro de Inmunoensayo - OPS/OMS | Organización Panamericana de la Salud. Www.paho.org. https://www.paho.org/es/noticias/12-10-2020-tiempos-pandemia-embajada-suecia-cuba-coopera-con-opsoms-centro-inmunoensayo

WHO/PAHO. (2020b, November). Cooperación entre OPS y Unión Europea beneficia la respuesta a la COVID-19 en Cuba - OPS/OMS | Organización Panamericana de la Salud. Www.paho.org. https://www.paho.org/es/noticias/6-11-2020-cooperacion-entre-ops-union-europea-beneficia-respuesta-covid-19-cuba

World Bank. (2021, September 27). TCdata360: Scientific and technical journal articles. TCdata360. https://tcdata360.worldbank.org/indicators/IP.JRN.ARTC.SC