Lại nói về thách thức đối với vaccine nội địa

Tháng 6/2021, trong bài "Khi Nào Việt Nam Có Vaccine Nội Địa?", mình đánh giá khả năng cao vaccine nội địa (cụ thể: Nanocovax) sẽ có mặt vào khoảng cuối năm, khó sớm hơn được.

Đầu tháng 8, thông tin báo chí đăng tải thông tin Nanocovax "hiệu quả bảo vệ 90%." Mình cũng đã giải thích vì sao nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình để dự đoán con số này, chứ không phải là kết quả Phase 3.

Việc diễn giải kết quả nghiên cứu khoa học tùy tiện trên mạng xã hội và báo chí dẫn đến những hệ lụy. Một ví dụ: Dân kỳ vọng quá mức về việc Nanocovax sẽ sớm có mặt. Điều này tạo ra tranh cãi trong xã hội, khi một bộ phận "tấn công" Hội đồng Đạo đức, Bộ Y Tế, và Chính phủ với cáo buộc chậm trễ phê duyệt vaccine nội địa.

Sự kiện, đến bây giờ, Hội đồng đạo đức mới thông qua báo cáo nghiên cứu thử nghiệm giữa kỳ Phase 3 với Nanocovax khẳng định rằng: Hội đồng Đạo đức & Bộ Y Tế đang làm đúng với trách nhiệm họ đảm nhận.

Mốc thời gian này cũng phù hợp với thời gian trung vị theo dõi người thử nghiệm phải từ 2-3 tháng, để đảm bảo giữa độ hiệu quả và an toàn vaccine.

VÌ SAO PHẢI ĐẾN CUỐI NĂM?

Một bản tin gần đây dẫn nguồn từ Bộ Y Tế nói rằng:

Điều này cũng phù hợp với nhận định trước đó của mình.

Nguyên do không phải vì chất lượng, hay nền tảng công nghệ. Bản thân mình khi ủng hộ Nanocovax cũng đã bị ném đá bởi một số đối tượng ủng hộ cho một loại "vaccine ông ngoại."

Nguyên nhân lớn nhất ở đây là môi trường thử nghiệm: Chống dịch quá chặt, xác suất mắc bệnh thấp, thì thách thức cho thử nghiệm vaccine.

Hiện nay, nguyên nhân này vẫn là chủ yếu đối với thử nghiệm vaccine nội địa.

Thứ nhất, hiện tại, ngay cả khi Việt Nam có gần 700,000 ca nhiễm được công bố, tỷ lệ số ca nhiễm công bố / 1 triệu dân tương đương 7,000; thấp hơn trung bình thế giới 4 lần. Tỷ lệ mắc cũng không đồng đều giữa các tỉnh thành.

  • Nanogen cũng đã dự trù trước được vấn đề này. Họ thử nghiệm Nanocovax với tỷ lệ nhóm 2:1 (thay vì 1:1).

  • Cũng có kế hoạch thử nghiệm phase 3 ở Philippines và Mozambique. Tuy nhiên, không có thông tin nhiều về kế hoạch này.

Thứ hai, khi lockdown dài, và quá hà khắc. Hầu hết người dân ở trong nhà, thì rủi ro phơi nhiễm thấp.

  • Nếu tỷ lệ nhiễm ở các nhóm thử nghiệm không đồng đều, ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm. Ví dụ: Tỷ lệ nhiễm và các biến cố khác (như tăng nặng, tử vong) ở nhóm cao tuổi và bệnh nền trong thử nghiệm nếu quá thấp sẽ kết quả không có độ chính xác cao, ước lượng khoảng sẽ rộng, chất lượng minh chứng cho nhóm này sẽ kém. Như đã diễn ra với Sinopharm: https://bit.ly/3llweqC

  • Một trường hợp khác là khi tỷ lệ số người giam gia thử nghiệm quá nghiêng về nhóm rủi ro cao (chẳng hạn như nhân viên y tế). Một số có thể dương tính trong vòng 14 ngày sau tiêm liều 1 hoặc 2, do đó sẽ bị loại khỏi thử nghiệm.

  • Khi thử nghiệm trong bối cảnh lockdown sẽ khác với điều kiện bình thường. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ là kết quả thử nghiệm (vaccine efficacy) sẽ chênh lệch với các kết quả thực tế (vaccine effectiveness) sau này. Randomization không giải quyết được bias tạo ra bởi bối cảnh thử nghiệm: Chọn mẫu ngẫu nhiên 100 hay 10,000 người trong thời gian phong tỏa thì họ vẫn ở trong tình huống đó.

Thứ ba, khi tốc độ tiêm chủng các loại vaccine nước ngoài tăng lên, và tăng mật độ bao phủ vaccine này trong dân, cũng ảnh hưởng đến rủi ro phơi nhiễm: Những người tham gia thử nghiệm Nanocovax (và các loại vaccine nội địa khác) sẽ khó mắc bệnh hơn so với trong điều kiện bình thường.

  • Một loại vaccine khác của Việt Nam, Covivac chuyển qua thử nghiệm đối chứng head-to-head với AstraZeneca, thay vì giả dược.

Thứ tư, ngoài các nguyên nhân thông thường khi rút khỏi thử nghiệm, lockdown kéo dài thì nhiều vấn đề phát sinh đối với người tham gia thử nghiệm

  • Một số người sẽ rời khỏi vùng dịch: Mất liên lạc, khó phối hợp theo dõi sát sao, thiếu dữ liệu

  • Đi lại bị hạn chế: Tiêm chủng không đúng lịch hẹn, theo dõi sức khỏe sau tiêm khó khăn.

Thứ năm, quy định phòng chống dịch mới có khả năng ảnh hưởng đến người tham gia thử nghiệm

  • Người tham gia thử nghiệm sẽ có người thuộc nhóm tiêm vaccine và nhóm tiêm giả dược. Cơ chế quy định "thẻ xanh, thẻ vàng" đối với các đối tượng này chưa có. Người ở nhóm giả dược thì chắc chắn không thể được cấp thẻ xanh. Nếu cấp thẻ xanh cho nhóm tiêm vaccine thì sẽ phát sinh vấn đề: vaccine có được cấp phép chưa.

  • Nếu áp dụng quy định phòng dịch mới vào người giam gia thử nghiệm, nghĩa là vi phạm nguyên tắc blinding. Muốn áp dụng quy định, khả năng cao phải "giải mù" (unblinding).

Đó là lí do vì sao các loại vaccine của Trung Quốc cũng phải tiến hành thử nghiệm ở các nước Nam Mỹ nơi có mức độ truyền nhiễm cao hơn.

Nói sơ như vậy để thấy nghiên cứu và thử nghiệm vaccine ở Việt Nam không hề dễ dàng.